Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Phạm vi bồi thường thiệt hại của bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự là thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng và tài sản đối với bên thứ ba do xe cơ giới gây ra, thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của hành khách do xe cơ giới gây ra, vậy như thế nào là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng?
Bồi thường thiệt hại hiểu là việc người gây thiệt hại bồi thường cho người bị thiệt hại, khi thiệt hại liên quan đến những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ thì thuật ngữ bồi thường thiệt hại khi đó được luật hóa, trở thành một quy định khiến các chủ thể phải tuân theo, bồi thường thiệt hại khi đó không còn là sự thỏa thuận đơn thuần giữa các bên, nó trở thành trách nhiệm dân sự của các chủ thể.
Pháp luật quy định tiệt hại là những tổn thất thực tế về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân; tài sản, danh dự, uy tín của pháp nhân hoặc chủ thể khác được pháp luật bảo vệ.
Điều 361 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“2. Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.
3. Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể.”
Điều 360 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ:
“Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.”
Điều 361 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ:
“1. Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.
2. Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.
3. Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể.”
Bồi thường thiệt hại chia ra hai loại, bồi thường thiệt hại trong hợp đồng (bồi thường do vi phạm hợp đồng) và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Theo quy định tại Điều 419 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp đồng bao gồm: Thiệt hại vật chất thực tế xác định được: tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút; Khoản lợi ích mà lẽ ra bên có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại được hưởng do hợp đồng mang lại; Chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại; Thiệt hại về tinh thần.
Bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là hình thức trách nhiệm dân sự đặt ra khi hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng đã gây ra thiệt hại, theo đó, bên có hành vi vi phạm phải bù đắp những tổn thất vật chất, tinh thần do mình gây ra. Bên vi phạm hợp đồng phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là loại trách nhiệm dân sự phát sinh giữa các chủ thể mà trước đó không có quan hệ hợp đồng hoặc tuy có quan hệ hợp đồng nhưng hành vi của người gây thiệt hại không thuộc về nghĩa vụ thực hiện hợp đồng đã ký kết, theo đó người có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
“Về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.”
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là có thiệt hại thực tế xảy ra, có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật hoặc có sự kiện tài sản gây thiệt hại xảy ra trên thực tế, có mối quan hệ nhân quả giữa những hành vi trái pháp luật và thiệt hại thực tế. Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và tinh thần, thiệt hại là điều kiện bắt buộc của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Chủ xe, người lái xe gây tai nạn thì doanh nghiệp bảo hiểm nơi chủ xe mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự sẽ phải có trách nhiệm thay người chủ xe, người lái xe gây tai nạn bồi thường thiệt hại cho người bị nạn.
Mức bồi thường tối đa là 150 triệu đồng đối với thiệt hại về người; 50 triệu đồng đối với thiệt hại về tài sản do xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe có kết cấu tương tự theo quy định của Luật Giao thông đường bộ; 100 triệu đồng đối với thiệt hại về tài sản do Do xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe máy chuyên dùng theo quy định của Luật Giao thông đường bộ.
Đ.V




