Bồi thường thiệt hại trong trường hợp tham gia nhiều hợp đồng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự

schedule 16/10/2023 20:00 Lượt xem: 3859

Trường hợp nhiều hợp đồng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự được giao kết cho cùng một xe cơ giới, số tiền bồi thường sẽ được giải quyết theo hình thức cộng dồn các hợp đồng bảo hiểm hay chỉ được bồi thường theo một hợp đồng bảo hiểm?

Theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022, hhợp đồng bảo hiểm được hiểu là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng.
Hợp đồng bảo hiểm là bằng chứng giao kết thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm. Khi sự kiện bảo hiểm phát sinh, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ có trách nhiệm chi trả những chi phí thực tế để khắc phục hậu quả thiệt hại do sự kiện bảo hiểm. Do vậy sự kiện bảo hiểm là yếu tố quan trọng mà người tham gia bảo hiểm cần chú ý, đặc biệt là người tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bởi đây là cơ sở để doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện trách nhiệm chi trả quyền lợi cho chủ xe cơ giới trong trường hợp xảy ra tai nạn giao thông. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều người chưa biết sự kiện bảo hiểm là gì? Nếu tham gia nhiều hợp đồng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự cùng lúc thì có được bồi thường thiệt hại đồng thời từ các doanh nghiệp bảo hiểm không?
Sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do người tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm thỏa thuận tại thời điểm ký kết hợp đồng, hoặc được quy định bởi pháp luật. Khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm phải chi trả quyền lợi cho người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng.
Để được công nhận là sự kiện bảo hiểm thì sự việc, hiện tượng ảnh hưởng đến sức khỏe, thân thể, tính mạng (bị thương tật, tai nạn, nằm viện, bệnh hiểm nghèo…) phải xảy ra một cách bất ngờ, khách quan với người được bảo hiểm. Những trường hợp mang tính chủ quan, xuất phát từ chủ ý cố tình tự tử, gây thương tích, nhằm nhận tiền bồi thường thì công ty bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm.
Đối với lĩnh vực bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, sự kiện bảo hiểm phát sinh là khi xảy ra tai nạn giao thông, người điều khiển phương tiện (bên mua bảo hiểm) gây tai nạn giao thông, dẫn đến những thiệt hại về người, tài sản cho người bị nạn. Như vậy bên mua bảo hiểm sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm chi trả những chi phí bồi thường thiệt hại cho người bị hại, gồm chi phí bồi thường về tính mạng, sức khoẻ và tài sản.
Mức bồi thường cụ thể về sức khỏe, tính mạng được xác định theo từng loại thương tật, thiệt hại theo Bảng quy định trả tiền bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tính mạng theo quy định tại Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị định 67/2023/NĐ-CP hoặc theo thỏa thuận (nếu có) giữa người được bảo hiểm và người bị thiệt hại hoặc người thừa kế của người bị thiệt hại (trong trường hợp người bị thiệt hại đã chết) hoặc đại diện của người bị thiệt hại (trong trường hợp người bị thiệt hại mất năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án hoặc chưa thành niên theo quy định của Bộ luật Dân sự), nhưng không vượt quá mức bồi thường quy định tại Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị định 67/2023/NĐ-CP. Trường hợp có quyết định của Tòa án thì căn cứ vào quyết định của Tòa án nhưng không vượt quá mức bồi thường quy định tại Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị định 67/2023/NĐ-CP.
Trường hợp nhiều xe cơ giới gây tai nạn dẫn đến thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, mức bồi thường được xác định theo mức độ lỗi của chủ xe cơ giới nhưng tổng mức bồi thường không vượt quá giới hạn trách nhiệm bảo hiểm.
Đối với vụ tai nạn được cơ quan có thẩm quyền xác định nguyên nhân do lỗi hoàn toàn của người thứ ba, mức bồi thường bảo hiểm về sức khỏe, tính mạng đối với các đối tượng thuộc người thứ ba bằng 50% mức bồi thường quy định tại Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị định này hoặc theo thỏa thuận (nếu có) giữa người được bảo hiểm hoặc người thừa kế của người bị thiệt hại (trong trường hợp người bị thiệt hại đã chết) hoặc đại diện của người bị thiệt hại (trong trường hợp người bị thiệt hại mất năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án hoặc chưa thành niên theo quy định của Bộ luật Dân sự), nhưng không vượt quá 50% mức bồi thường quy định tại Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị định 67/2023/NĐ-CP.
Mức bồi thường cụ thể về thiệt hại đối với tài sản trong một vụ tai nạn được xác định theo thiệt hại thực tế và theo mức độ lỗi của chủ xe cơ giới nhưng không vượt quá giới hạn trách nhiệm bảo hiểm.
Giới hạn trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về sức khỏe, tính mạng do xe cơ giới gây ra là 150 triệu đồng cho một người trong một vụ tai nạn.
Giới hạn trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về tài sản do xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe có kết cấu tương tự theo quy định của Luật Giao thông đường bộ gây ra là 50 triệu đồng trong một vụ tai nạn; do xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo theo quy định của Luật Giao thông đường bộ gây ra là 100 triệu đồng trong một vụ tai nạn.
Trường hợp nhiều hợp đồng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự được giao kết cho cùng một xe cơ giới, số tiền bồi thường chỉ được giải quyết theo hợp đồng bảo hiểm giao kết đầu tiên. Doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn lại cho bên mua bảo hiểm 100% phí bảo hiểm đã đóng đối với các hợp đồng bảo hiểm còn lại.
Như vậy, nếu xe ô tô có hai hợp đồng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự cùng lúc, khi xảy ra tai nạn thì số tiền bồi thường chỉ được giải quyết theo hợp đồng bảo hiểm giao kết đầu tiên.

Đan Trang

 

Admin
Chia sẻ ý kiến của bạn
0/1200 ký tự
comment_bankChưa có bình luận nào

Bài viết cùng chuyên mục

Đường dây nóng

Thi Trắc nghiêm

Thăm dò ý kiến

Giải pháp kiềm chế và giảm tai nạn giao thông