Gặp người chiến sĩ Công an năm xưa
Thế hệ trẻ chúng tôi được sinh ra và lớn lên khi đất nước đã hòa bình, thống nhất, không phải chứng kiến sự tàn khốc của các cuộc chiến tranh, nhưng qua các câu chuyện kể và sử sách để lại, phần nào đã giúp chúng tôi thấu hiểu hơn những hy sinh mất mát to lớn của các bậc cha ông. Biết bao người đã phải đánh đổi cả tuổi thanh xuân, hy sinh một phần xương máu, thậm chí cả tính mạng để giành lại hòa bình, thống nhất nước nhà hôm nay.
Ngày 30/4/1975 đã trở thành mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc Việt Nam. 42 năm đã trôi qua, nhưng khi trò chuyện với người cán bộ công an năm xưa, chúng tôi thấy những ký ức về cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại vẫn còn nguyên vẹn. Đó là câu chuyện về ông Nguyễn Văn Cộng ở Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. Sự vui vẻ, nhiệt thành của ông khiến chúng tôi như hòa mình vào những ngày tháng hoạt động cách mạng sôi nổi của thế hệ các ông ngày ấy.
Hơn nửa thế kỷ đã đi qua, giờ đây đã gần 82 tuổi, nhưng những kỷ niệm một thời khói lửa vẫn âm vang trong trái tim người lính cao niên. Ông sinh năm 1935 tại xã Tràng Cát, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng. Lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, ngay từ khi còn nhỏ, hàng ngày phải chứng kiến cảnh người dân quê hương mình lầm than dưới gót giày xâm lăng của thực dân Pháp, ông đã sớm giác ngộ cách mạng và trở thành người con của lực lượng Công an nhân dân.
Sẵn có lòng yêu nước và tính cần cù lại được giác ngộ cách mạng sớm, ông tích cực học bình dân học vụ và hăng hái tham gia sinh hoạt đoàn thể ở địa phương. Được các đồng chí đảng viên tin tưởng và rèn luyện, thử thách nên mọi nhiệm vụ được giao dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào ông đều hoàn thành xuất sắc.
Những năm 1949, 1950 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ngày càng cam go, ác liệt. Địch ra sức khủng bố, đàn áp phong trào cách mạng ở địa phương. Nhiều nơi lâm vào hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, gian khổ. Tỉnh ủy Hải Phòng chủ trương bằng mọi giá phải giữ vững phong trào từ cơ sở, tăng cường cán bộ, giữ đất, giữ làng, thực hiện phong trào “vườn không nhà trống”, tích cực phát triển lực lượng, đánh bại âm mưu bình định của địch. Trước tình hình đó, tổ chức giao nhiệm vụ cho ông làm công tác địch vận.
Trò chuyện với chúng tôi, ông đăm chiêu nhớ lại: “Hồi ấy, năm 1953, khi mới 18 tuổi, tôi được 2 cán bộ giới thiệu vào làm việc cho tổ chức Việt Minh tại thôn Quán Sỏi, xã Dư Hàng Kênh, thành phố Hải Phòng, với nhiệm vụ phản gián và địch vận, nắm tình hình, thu thập tin tức, hoạt động của địch trong vùng. Tuy mới tham gia cách mạng, nhưng tôi rất năng nổ, nhiệt tình. Với vỏ bọc hoạt động hợp pháp mà tổ chức giao cho tôi, nên dù công việc hết sức khó khăn, vất vả và nguy hiểm, hoạt động trong vùng phải vượt qua nhiều đồn bốt, trạm kiểm soát, cũng như các cuộc hành quân càn quét của địch; vượt qua mạng lưới tình báo, gián điệp dày đặc của địch, tôi vẫn luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”.
Hàng ngày, ông tìm cách lân la làm quen với bọn lính đóng bốt ở xã để thu thập tình hình địch báo cáo về chỉ huy. Sau một thời gian, nhờ sự khéo léo và thông minh, ông đã làm quen và được bọn chúng tin cậy. Nhờ đó, ông đã khai thác được những thông tin quan trọng, báo cáo cấp trên để có chủ trương đối phó kịp thời.
Trong những ngày tháng gian khổ của cuộc đời làm cách mạng có rất nhiều kỷ niệm đáng nhớ để lại dấu ấn đậm nét với ông. Một trong số đó là việc ông được cấp trên giao nhiệm vụ giấu chiếc xe ô tô mà quân ta đã lấy được của địch. Ông nhớ lại: “Tôi rất băn khoăn với nhiệm vụ này, bởi chỉ có thể giấu chiếc xe ô tô trong nhà tôi, nơi cả gia đình tôi đang sinh sống nhưng chỉ cách đồn địch 300m. Nếu tôi nhận nhiệm vụ này, lỡ bị phát hiện, chắc chắn sẽ nguy hiểm đến tính mạng của tất cả mọi người trong gia đình. Nhưng nếu tôi không nhận nhiệm vụ, thì tôi lại không làm tròn trách nhiệm của mình đối với cách mạng. Một thoáng trăn trở với nhiệm vụ mới, tôi nhanh chóng quyết định nhận nhiệm vụ mà cấp trên giao phó với quyết tâm hoàn thành một cách xuất sắc nhất”.
Nhận nhiệm vụ quan trọng đó, ông đã bí mật lợi dụng đêm tối, một mình gom 2 đống rơm lớn. Ông làm rất cẩn thận, bí mật nhằm tránh gây nghi ngờ cho địch khi chúng thường xuyên tuần tra, kiểm soát qua khu vực nhà ông, ngoài ra cũng để tránh những người trong xã biết về việc này. Khi đã chuẩn bị xong mọi thứ, ngày 11/10/1954, ông hẹn cán bộ vào lúc 11h trưa địch sẽ đi ăn cơm, nên 11h30 đánh xe vào nhà. Sau đó, ông nhanh trí lấy 2 ụ rơm trùm lên xe ô tô. Với ánh mắt lấp lánh niềm tự hào, ông cười rất tươi rồi bảo: “Một điều may mắn là trong suốt 7 tháng giấu xe tại nhà, dù chỉ cách đồn địch hơn 300m, dưới sự tuần tra, kiểm soát gắt gao của chúng song những con mắt cú vọ đã không phát hiện ra chiếc xe trong ụ rơm nhà tôi”. Hành động mưu trí, dũng cảm của ông đã giúp ta lấy được xe địch, sau này phục vụ tích cực cho hoạt động đi lại của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta thời đó. Kết thúc nhiệm vụ này, ông vinh dự được cấp trên tặng bằng khen.
Với những năm tháng hoạt động bí mật, năm 1956 ông chính thức trở thành Trưởng Công an xã Dư Hàng Kênh, lúc mới tròn 21 tuổi. Khi đó, dù có người trong vùng nghi ngờ, ông vẫn âm thầm nén lại và vượt lên chính mình, hoàn thành tốt nhiệm vụ lớn lao mà Đảng và tổ chức giao phó.
Nhanh chóng bắt tay vào nhiệm vụ mới, ông ngày đêm nghiên cứu, quán triệt các Nghị quyết của Đảng và nhiệm vụ tiếp quản vùng mới giải phóng của Bộ Công an đề ra cho toàn ngành: “Thiết lập trật tự cách mạng, đả kích bọn côn đồ đang phá hoại để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, bảo vệ cơ quan xí nghiệp, kho tàng quốc gia” và đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Công an toàn quốc lần thức 9 (từ 17 – 23/2/1955) đã chỉ rõ: “Khu vực Hải Phòng là một khu vực quan trọng về chính trị, quân sự, kinh tế, có hải cảng và nhiều sân bay… cũng là khu vực tập trung gián điệp, đặc vụ, đảng phái phản động phá rối trị an, gây khó khăn cho ta khi tiếp quản và cả sau này nữa”. Từ đó, ông đề ra hai nhiệm vụ chính cấp thiết cần phải triển khai ngay: Một là, ra sức xây dựng cơ sở điều tra tìm hiểu bọn tay sai địch cài lại và những âm mưu hoạt động của chúng, thu thập tình hình chính trị, xã hội, tranh thủ các nhân viên cũ của địch, tình nguyện ở lại với ta, giữ gìn tài liệu, dụng cụ, báo cáo tin tức để cung cấp cho đại biểu của ta ở Ủy ban liên hợp đấu tranh trực tiếp và hướng dẫn địa phương đấu tranh với địch chống lại mọi sự phá hoại. Hai là, kịp thời chuẩn bị bộ máy, phương tiện, chính sách, kế hoạch… để hoàn thành công tác giữ gìn an ninh, trật tự thời kỳ đầu mới tiếp quản.
Thời điểm đó, càng tới gần ngày tiếp quản thành phố các cuộc đấu tranh càng liên tiếp nổ ra. Bộ máy ngụy quyền tay sai Mỹ - Pháp tập trung tới mức cao nhất để thực hiện chiến dịch cưỡng ép di cư. Chúng ra Thông tin số 13/VFTT gửi ngụy quyền các cấp ngăn chặn ta vận động công nhân, viên chức, binh lính ngụy ở lại miền Bắc. Chúng thành lập “Ủy ban di cư miền Duyên Hải” từ tháng 8/1954 để thi hành âm mưu thâm độc này. Ai (nhất là đồng bào công giáo) không chịu đi thì chúng cho bọn lưu manh, côn đồ, phản động tới đe dọa, dụ dỗ, xuyên tạc chế độ ta để đồng bào theo chúng di cư vào Nam.
Xác định chống cưỡng ép di cư lúc này là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách nhất của xã nhằm đánh bại âm mưu phá hoại trước mắt và lâu dài của địch nên ngoài nhiệm vụ điều tra nắm tình hình phát hiện bọn đầu sỏ và những hoạt động cưỡng ép di cư, ông và các cán bộ của mình kết hợp với các tổ chức đoàn thể, mặt trận trực tiếp vận động đồng bào với phương châm lấy thuyết phục là chính, đồng thời phải kiên quyết trấn áp bọn phản động, trừng trị những tên cầm đầu đang trắng trợn cưỡng ép đồng bào di cư vào Nam, nhất là đồng bào công giáo từ các tỉnh kéo tới Hải Phòng chờ ngày xuống tàu; vận động và cảm hóa binh lính, cảnh sát ngụy, các đảng phái phản động và công nhân, viên chức của địch ở lại, thâm nhập vào các trại tập trung dân cư, trại lính vận động giáo dân, binh sĩ trở về quê hương.
Bên cạnh đó, với quyết tâm cao trong công tác xây dựng lực lượng, ông đã sớm kiện toàn và củng cố tổ chức, xây dựng nòng cốt trong phong trào bảo mật phòng gian, hướng dẫn nhân dân tổ chức cuộc sống mới; tích cực thực hiện chủ trương của Đảng bộ, mở đợt tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng, tổ chức mít tinh hội họp mừng chiến thắng, giúp dân tăng gia sản xuất, ổn định đời sống, giữ gìn trật tự trị an. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ của xã diễn ra sôi nổi ở khắp nơi.
Trong tập tài liệu được ông lưu giữ cẩn thận từ những cuốn sổ ghi chép nội dung công việc đến những bằng khen cao quý do Đảng, Nhà nước ta trao tặng mà ông tỉ mẩn mở ra cho chúng tôi xem, ông nói: “Mỗi tập tài liệu đều là một kỷ niệm đẹp của ông và đồng đội đã cống hiến cho đất nước, cho lực lượng Công an nhân dân”.
Câu chuyện khép lại khi ông bỗng trầm ngâm tâm sự: “Năm 1959 vì lý do sức khỏe, tôi không còn công tác trong lực lượng công an nữa. Nhưng suốt cuộc đời này, những kỷ niệm trong quãng thời gian đó vẫn là những buồn vui lẫn lộn. Vui, vì tôi đã có một số đóng góp cho cách mạng. Buồn, vì duyên nợ tôi với ngành công an còn ít quá. Song tôi luôn tâm niệm, đời cán bộ công an chúng tôi, tâm thế lúc nào cũng chấp nhận hy sinh… Ngẫm lại, mình vẫn còn may mắn khi được sống đến ngày đất nước giải phóng, để thấy những đóng góp của tôi, đồng đội tôi và những người đã ngã xuống hoàn toàn không uổng phí.”
Phát huy tinh thần anh dũng trong chiến đấu, trong cuộc sống đời thường hôm nay, những người chiến binh công an năm xưa ấy luôn xứng đáng là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ noi theo./.
Hồng Phước




