Một số kinh nghiệm trong bảo đảm TTATGT đường bộ của Nhật Bản
Ở quốc gia đất nước mặt trời mọc vào những năm đầu 70 của thế kỷ XX trung bình một năm ở Nhật Bản có trên 17.000 người chết do tai nạn giao thông. Tai nạn giao thông đã trở thành ”chiến nạn”, Hoàng gia và Chính phủ Nhật Bản đã nhận thấy cần phải có biện pháp mạnh để đối phó với thảm họa này.
Sau gần 50 năm nỗ lực thực hiện các giải pháp bảo đảm TTATGT đường bộ với mục tiêu: tất cả vì con người, được sự quan tâm chỉ đạo của chính quyền các cấp, sự tham gia với ý thức trách nhiệm và tự giác của người dân, TTATGT đường bộ ở Nhật Bản đã trở thành mong ước lý tưởng của nhiều quốc gia trên thế giới. Số người chết do tai nạn giao thông ở Nhật Bản từng bước giảm cơ bản, đến nay đã giảm hơn ¾ số người chết so với năm 1970. Để đạt được thành quả nêu trên Cảnh sát quốc gia Nhật Bản đã tham mưu cho chính quyền xây dựng chiến lược và tổ chức thực hiện chiến lược về giao thông đường bộ.
Để giải quyết được TTATGT đường bộ người Nhật đặc biệt quan tâm đến hai vấn đề cơ bản: Một là, phải giải quyết hài hòa và đầu tư thích đáng đối với các yếu tố cấu thành hoạt động giao thông đường bộ; khai thác mọi tiềm năng sẵn có và đầu tư hợp tác với các nước phát triển để thực hiện mục tiêu này. Thứ hai là song hành với quá trình đầu tư phát triển hoạt động giao thông đường bộ, để hỗ trợ cho giao thông đường bộ, Chính phủ đã kết nối, tận dụng mọi nguồn vốn của nhà nước và đầu tư của nhân dân tham gia vào các lĩnh vực giao thông công cộng như: hệ thống tàu điện ngầm, hệ thống tàu siêu tốc, hệ thống đường sắt trên cao, hệ thống đường thủy, đường hàng không... để góp phần bảo đảm TTATGT đường bộ.

Hệ thống giao thông hiện đại tại Nhật Bản
Trong hoạt động bảo đảm TTATGT, Nhật Bản đã có nhiều nỗ lực, thực hiện nhiều biên pháp để bảo đảm TTATGT đường bộ. Trong đó phải kể đến một số công tác cơ bản sau:
Trước hết nói về công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật giao thông, công tác tuyên truyền của người Nhật đơn giản, thiết thực, hiệu quả, đi sâu vào lòng người, không phô trương hình thức, cờ rong trống mở. Ngược lại họ kiên trì, bề bỉ. Nội dung tuyên truyền không dài dòng mà được cụ thể hóa ngắn gọn thông qua tờ rơi, những việc không nên làm và những việc cần phải làm của Cảnh sát giao thông, của các cơ quan, tổ chức xã hội và người dân tình nguyện gắn với từng loại đối tượng tham gia các loại hình giao thông. Không tuyên truyền chung chung, tuyên truyền vu vơ, không có địa chỉ rõ ràng. Hình thức tuyên truyền đơn giản, đa dạng có sức thu hút, đi sâu vào lòng người gắn với tâm lý, lứa tuối, với từng loại đối tượng tham gia giao thông. Qua đó, mỗi người dân, mỗi cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp Nhật Bản đều thấy rõ trách nhiệm của mình với cộng đồng, họ sẵn sàng đóng góp, chia sẻ cơ sở vật chất và tinh thần để hỗ trợ với nhà nước, với các nước nghèo chậm phát triển có cơ hội để tìm kiếm giải pháp bảo đảm TTATGT phòng tránh những hiểm họa đối với con người.
Biển chỉ dẫn của CSGT Nhật Bản, dành cho phụ huynh: Hãy hướng dẫn con em mình qua đường an toàn. Đây là con phố thân thiện với trẻ em và người đi bộ
Về công tác đào tạo nguồn nhân lực thực hiện nhiệm vụ bảo đảm TTATGT đường bộ, Cảnh sát giao thông Nhật bản có một vài nguyên tắc cơ bản như: đào tạo gắn liền với sử dụng; đào tạo theo hướng chuyên môn hóa; công tác đào tạo được phân chia theo thứ bậc rõ ràng, chặt chẽ; đào tạo lý thuyết đi đôi với thực hành; đa dạng hóa nguồn đầu vào của công tác đào tạo để tận dụng kiến thức của các ngành khoa học phục vụ công tác bảo đảm TTATGT; chú trọng công tác đào tạo lại để cập nhật kiến thức theo định kỳ hàng năm gắn với công tác đào tạo nâng cao. Với nguyên tắc đào tạo nói trên, nguồn nhân lực bảo đảm TTATGT luôn luôn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao trong công tác bảo đảm TTATGT đường bộ tại Nhật Bản.
Đối với công tác đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe, theo kinh nghiệm của người Nhật, vấn đề tai nạn giao thông, ùn tắc giao thông, vi phạm pháp luật giao thông, nguyên nhân sâu xa của nó phải nói đến chất lượng công tác đào tạo, sát hạch cấp giấy phép lái xe cơ giới. Để nâng cao chất lượng người điều khiển phương tiện xe cơ giới, nhằm kéo giảm tai nạn, vi phạm luật giao thông, Chính phủ Nhật Bản đã xây dựng cơ chế chính sách ràng buộc giữa cơ sở đào tạo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc sát hạch cấp giấy phép điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Chính phủ Nhật giao Cảnh sát Nhật thành lập các Trung tâm Quản lý giao thông (mỗi tỉnh, thành phố có 2 đến 3 trung tâm) có nhiệm vụ quản lý, sát hạch, cấp đổi giấy phép lái xe. Đối với cơ quan kiểm tra, thanh tra nhà nước, thanh tra chuyên ngành phải tăng cường hoạt động thanh tra các cơ sở đào tạo và các Trung tâm quản lý giao thông trong việc sát hạch cấp giấy phép điều khiển phương tiện. Theo đó Nhà nước có qui định cụ thể kiểm tra định kỳ người điều khiển phương tiện về các nội dung an toàn theo qui định của luật để loại trừ những người không còn đủ điều kiện điều khiển phương tiện.
Công tác tổ chức mạng lưới giao thông của Nhật Bản có sự kết nối liên hoàn giữa các loại hình từ đường bộ, đến tàu điện (phương tiện thông dụng nhất của người dân Nhật Bản bởi nó vừa rẻ lại tiện lợi), giao thông đường thủy, đường biển, đường hàng không. Tất cả hệ thống đường giao thông ở Nhật Bản đã được chuẩn hóa từ vùng quê cho đến thành phố, mọi ngõ ngách đều có phân luồng, giải phân cách rõ ràng, nơi dành cho ô tô, xe máy… và tất nhiên người đi bộ có lối đi riêng. Sự phối hợp trong giao thông không chỉ thể hiện qua việc nối mạng các tuyến đường trong nội đô, nội tỉnh với nhau, mà còn thể hiện qua sự nối chúng với hệ thống đường liên tỉnh. Đường lộ thường nối với đường cao tốc; đường cao tốc nối với nhau; đường vành đai nối với đường xuyên tâm. Đường tàu điện ngầm nối với đường tàu điện nổi và với hệ thống tàu điện liên tỉnh. Vì thế, việc đi lại rất thuận tiện. Cùng với hệ thống đường, hệ thống điều khiển tín hiệu giao thông cũng được nối mạng rất chặt chẽ. Mặt khác, tình hình giao thông trên mỗi tuyến đường thường xuyên được thông tin đầy đủ, nhất là trên kênh 1.620 MHz của đài phát thanh, vì thế, khi có sự cố ùn tắc giao thông, thì việc phân luồng được tự động thực hiện, không để ùn tắc trầm trọng thêm.

Tàu điện là sự lựa chọn hàng đầu của người dân Nhật Bản
Dưới con mắt của các chuyên gia nghiên cứu về TTATGT của Nhật Bản, Việt Nam đã có nhiều quyết tâm nhằm cải thiện tình hình TTATGT, phòng ngừa TNGT, làm giảm số người chết do TNGT. Họ cho rằng chúng ta chưa xây dựng được chiến lược phát triển phương tiện giao thông đường bộ hợp lý. Cơ cấu tỷ lệ ô tô và mô tô ở Việt Nam 1 ô tô có 57 xe mô tô, so với các nước trong khu vực, chiến lược phát triển phương tiện của Việt Nam hoàn toàn khác xa với các nước trong khu vực, ở Thái Lan cứ 2 xe máy có 1 ô tô; Ở Ma lai, In đô cứ 7 đến 8 xe máy có 1 xe ô tô. Tỷ lệ phương tiện giao thông công cộng với phương tiện cá nhân được phát triển mất cân đối, nhà nước chưa đủ điều kiện cần thiết để điều phối; phương tiện giao thông công cộng chưa được đầu tư thỏa đáng, chưa thu hút và đáp ứng nhu cầu đi lại của người tham gia giao thông. Các phương tiện giao thông cơ giới của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và của công dân đã hết thời gian lưu hành, đã có qui định cần phải thu hồi, nhưng chưa được tổ chức triển khai thực hiện...
Về hạ tầng giao thông, tổ chức mạng giao thông ở Việt Nam, theo nhận xét của các chuyên gia Nhật Bản, hệ thống đường giao thông của Việt Nam tính theo bình quân đầu dân số vẫn chưa thiếu nhiều. Nhưng chúng ta đang thiếu và yếu về phương pháp tổ chức, điều hành mạng giao thông và khai thác hệ thống hạ tầng giao thông đã có. Nhiều tuyến đường mật độ phương tiện tham gia giao thông quá tải, dẫn đến ùn tắc, vi phạm, tai nạn giao thông. Bên cạnh đó nhiều tuyến đường kể cả đường trong các đô thị chưa được tận dụng khai thác triệt để dẫn đến lãng phí. Hơn nữa việc tổ chức hệ thông thông tin, tín, báo hiệu đường bộ nhiều tuyến đường chưa hợp lý làm cho các đối tượng tham gia giao thông khó thực hiện, dẫn đến vi phạm pháp luật giao thông.
Đối với công tác cưỡng chế vi phạm, song hành với công tác tuyên truyền, vận động, hướng dẫn thì việc cưỡng chế là cần thiết, không thể thiếu. Cưỡng chế phải đủ mạnh để có tác dụng trong răn đe, giáo dục, ngăn chặn người vi phạm; cưỡng chế phải kiên quyết, triệt để; đa dạng hóa các hình thức cưỡng chế như: cưỡng chế trực tiếp, cưỡng chế thông qua các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ chuyên dùng./.
Đại tá, TS, Phạm Trung Hòa,
Nguyên Trưởng khoa CSGT, Học viện CSND
Đăng Quang, Cục CSGT




