Người bị thiệt hại có được bồi thường trong trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm không?
Pháp luật quy định các trường hợp “loại trừ trách nhiệm bảo hiểm” đối với doanh nghiệp bảo hiểm còn “trách nhiệm bồi thường thiệt hại” thuộc về người gây tai nạn, hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau.
Trong đời sống xã hội, nghe đến thuật ngữ bồi thường thiệt hại chúng ta nghĩ ngay đến hai đối tượng là người có trách nhiệm bồi thường và người được bồi thường, cùng với đó là khoản bồi thường vật chất (bằng tiền) đối với người được bồi thường.
Đối với lĩnh vực bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự, người lái xe tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ thay người lái xe bồi thường thiệt hại cho chủ xe.
Nghị định 03/2021/NĐ-CP quy định về bồi thường bảo hiểm như sau: Khi tai nạn xảy ra, trong phạm vi mức trách nhiệm bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường cho người được bảo hiểm số tiền mà người được bảo hiểm đã bồi thường hoặc sẽ phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Ngay cả trong trường hợp người được bảo hiểm chết, mất năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án, thì doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải bồi thường trực tiếp cho người bị thiệt hại hoặc người thừa kế của người bị thiệt hại (trong trường hợp người bị thiệt hại đã chết) hoặc đại diện của người bị thiệt hại (trong trường hợp người bị thiệt hại mất năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án hoặc chưa đủ sáu tuổi). Mức bồi thường tối đa là 150 triệu đồng đối với thiệt hại về người; 50 triệu đồng đối với thiệt hại về tài sản do xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe có kết cấu tương tự theo quy định của Luật Giao thông đường bộ; 100 triệu đồng đối với thiệt hại về tài sản do Do xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe máy chuyên dùng theo quy định của Luật Giao thông đường bộ.
Tuy nhiên trong một số trường hợp, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ không bồi thường thiệt hại, pháp luật gọi đó là các trường hợp “loại trừ trách nhiệm bảo hiểm”:
Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe cơ giới, người lái xe hoặc người bị thiệt hại.
Người lái xe gây tai nạn cố ý bỏ chạy không thực hiện trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Trường hợp người lái xe gây tai nạn cố ý bỏ chạy nhưng đã thực hiện trách nhiệm dân sự của chủ xe Cơ giới thì không thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm.
Người lái xe chưa đủ độ tuổi hoặc quá độ tuổi điều khiển xe cơ giới theo quy định pháp luật về giao thông đường bộ; người lái xe không có Giấy phép lái xe hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không hợp lệ (có số phôi ghi ở mặt sau không trùng với số phôi được cấp mới nhất trong hệ thống thông tin quản Lý Giấy phép lái xe) hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa hoặc sử dụng Giấy phép lái xe hết hạn sử dụng tại thời điểm xảy ra tai nạn hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không phù hợp đối với xe cơ giới bắt buộc phải có Giấy phép lái xe. Trường hợp người lái xe bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe có thời hạn hoặc bị thu hồi Giấy phép lái xe thì được coi là không có Giấy phép lái xe.
Thiệt hại gây ra hậu quả gián tiếp bao gồm: giảm giá trị thương mại, thiệt hại gắn liền với việc sử dụng và khai thác tài sản bị thiệt hại.
Thiệt hại đối với tài sản do lái xe điều khiển xe mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn, sử dụng ma túy và chất kích thích bị cấm theo quy định của pháp luật.
Thiệt hại đối với tài sản bị mất cắp hoặc bị cướp trong tai nạn.
Thiệt hại đối với tài sản đặc biệt bao gồm: vàng, bạc, đá quý, các loại giấy tờ có giá trị như tiền, đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm, thi hài, hài cốt.
Chiến tranh, khủng bố, động đất.
Quy trình bồi thường thiệt hại như sau:
Trong vòng 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của bên mua bảo hiểm, người được Bảo hiểm về vụ tai nạn, doanh nghiệp bảo hiểm phải tạm ứng bồi thường đối với thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, cụ thể:
Trường hợp đã xác định được vụ tai nạn thuộc phạm vi bồi thường thiệt hại:
- 70% mức bồi thường bảo hiểm theo quy định/1 người/1 vụ đối với trường hợp tử vong.
- 50% mức bồi thường Bảo hiểm theo quy định/1 người/1 vụ đối với trường hợp tổn thương bộ phận được điều trị cấp cứu.
Trường hợp chưa xác định được vụ tai nạn thuộc phạm vi bồi thường thiệt hại:
- 30% mức trách nhiệm bảo hiểm theo quy định/1 người/1 vụ đối với trường hợp tử vong.
- 10% mức trách nhiệm bảo hiểm theo quy định/1 người/1 vụ đối với trường hợp tổn thương bộ phận được điều trị cấp cứu.
Doanh nghiệp bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thường phần vượt quá mức trách nhiệm bảo hiểm theo quy định của Bộ Tài chính, trừ trường hợp chủ xe cơ giới tham gia hợp đồng bảo hiểm tự nguyện.
Trường hợp nhiều hợp đồng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự được giao kết cho cùng một xe cơ giới, số tiền bồi thường chỉ được giải quyết theo hợp đồng bảo hiểm giao kết đầu tiên. Doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn lại cho bên mua bảo hiểm 100% phí bảo hiểm đã đóng đối với các hợp đồng bảo hiểm còn lại.
Như vậy có nghĩa trong các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm thì người bị thiệt hại không được bồi thường thiệt hại? Hiểu như vậy có đúng hay không?
Pháp luật quy định rất cụ thể về việc bồi thường thiệt hại như sau:
Theo khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự 2015: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. Như vậy, căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là “hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại”.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất về vật chất thực tế, được tính thành tiền do bên vi phạm nghĩa vụ gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chỉ phí để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút.
Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác, thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền cho người bị thiệt hại.
Pháp luật dân sự quy định hai loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại là: trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Căn cứ các quy định trên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi: chủ thể có hành vi trái pháp luật, có thiệt hại xảy ra trong thực tế, có mối quan hệ giữa hành vi vi phạm pháp luật và thiệt hại xảy ra, do lỗi của người vi phạm nghĩa vụ dân sự. Do vậy khi tai nạn giao thông xảy ra, người gây tai nạn phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Việc hiểu trong các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm thì người bị thiệt hại không được bồi thường thiệt hại là không đúng. Loại trừ trách nhiệm bảo hiểm tức là trong các trường hợp nêu trên doanh nghiệp bảo hiểm sẽ không thay cho người gây tai nạn để bồi thường thiệt hại cho người bị nạn mà người gây tai nạn sẽ phải tự mình bồi thường thiệt hại cho người bị nạn căn cứ vào lỗi do mình gây ra, và thiệt hại thực tế mà người bị nạn phải gánh chịu, đó là các chi phí về khắc phục hậu quả do thương tích về tính mạng, sức khỏe, chi phí sữa chữa phương tiện, hàng hóa hư hỏng (nếu có).
Như vậy trong các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, người bị tai nạn vẫn được bồi thường, người gây tai nạn có trách nhiệm thực hiện việc bồi thường theo quy định của pháp luật dân sự.
M.T




