Phạt tiền đến 70.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định về giải quyết bồi thường bảo hiểm

schedule 04/08/2020 18:00 Lượt xem: 2708

Thực tế có nhiều vụ việc trục lợi bảo hiểm xảy ra có sự thông đồng giữa công ty bảo hiểm và người mua bảo hiểm, gây thất thoát số tiền rất lớn, trong khi đó có những vụ việc cần được bồi thường thì lại bị sách nhiễu trong việc giải quyết bồi thường, những hành vi như vậy là vi phạm pháp luật và phải bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đã trở nên khá quen thuộc đối với chủ xe cơ giới tham gia giao thông bởi những ưu việt của loại hình bảo hiểm này mang lại, đặc biệt là sự chia sẻ của công ty bảo hiểm trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với bên thứ ba trong vụ TNGT. Tuy nhiên cũng chính vì sự chia sẻ được thể hiện thông qua việc bồi thường thiệt hại về tiền đã dẫn đến nhiều hành vi không chuẩn mực, thậm chí vi phạm quy định của pháp luật về giải quyết bồi thường bảo hiểm.

Bảo hiểm TNDS chia sẻ trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với bên thứ ba trong vụ TNGT 

Thông tư 22/2016/TT-BTC ngày 16/2/2016 quy định về quy tắc, điều khoản, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, tại Điều 5 quy định về phạm vi bồi thường thiệt hại như sau:

1. Thiệt hại ngoài hợp đồng về thân thể, tính mạng và tài sản đối với bên thứ ba do xe cơ giới gây ra.

2. Thiệt hại về thân thể và tính mạng của hành khách theo hợp đồng vận chuyển hành khách do xe cơ giới gây ra.

Điều 9, thông tư 22/2016/TT-BTC quy định về mức trách nhiệm bảo hiểm như sau:

Mức trách nhiệm bảo hiểm là số tiền tối đa doanh nghiệp bảo hiểm có thể phải trả đối với thiệt hại về thân thể, tính mạng và tài sản của bên thứ ba và hành khách do xe cơ giới gây ra trong mỗi vụ tai nạn xảy ra thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm. Cụ thể như sau:

1. Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về người do xe cơ giới gây ra là 100 triệu đồng/1 người/1 vụ tai nạn.

2. Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về tài sản do xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe cơ giới tương tự (kể cả xe cơ giới dùng cho người tàn tật) gây ra là 50 triệu đồng/1 vụ tai nạn.

3. Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về tài sản do xe ô tô, máy kéo, xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp và các loại xe đặc chủng khác sử dụng vào Mục đích an ninh, quốc phòng (kể cả rơ-moóc và sơ mi rơ-moóc được kéo bởi xe ô tô hoặc máy kéo) gây ra là 100 triệu đồng/1 vụ tai nạn.

Do tiền bồi thường thiệt hại cho bên thứ ba là con số không hề nhỏ (lên đến 100 triệu đồng) nên đây cũng chính là vấn đề làm phát sinh những tiêu cực, trục lợi trong giải quyết bồi thường thiệt hại. Thực tế đã có nhiều vụ việc trục lợi bảo hiểm xảy ra có sự thông đồng giữa công ty bảo hiểm và người mua bảo hiểm, gây thất thoát số tiền rất lớn, trong khi đó có những vụ việc thực tế cần được bồi thường thì lại bị sách nhiễu trong việc giải quyết bồi thường. Những hành vi như vậy là vi phạm pháp luật và bị xử lý với mức tiền phạt rất lớn, lên đến 70.000.000 đồng. Vấn đề này được quy định cụ thể tại Nghị định 103/2008/NĐ-CP ngày ngày 16 tháng 09 năm 2008 của Chính phủ về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, tại Điều 38 quy định về xử phạt các hành vi vi phạm quy định về giải quyết bồi thường bảo hiểm:

1. Phạt tiền 10.000.000 đồng đối với doanh nghiệp bảo hiểm, Tổng giám đốc (Giám đốc) và người liên quan thực hiện giải quyết bồi thường không đúng quy định.

2. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a. Doanh nghiệp bảo hiểm, Tổng giám đốc (Giám đốc) và người liên quan có hành vi yêu cầu người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm trả thù lao, hay các quyền lợi vật chất khác trái pháp luật trong quá trình giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm;

b. Cá nhân, tổ chức có hành vi trục lợi để nhận tiền bồi thường, trả tiền bảo hiểm;

c. Cán bộ, nhân viên của doanh nghiệp bảo hiểm đồng loã với người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm để giải quyết bồi thường bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm trái pháp luật vì mục đích vụ lợi;

d. Doanh nghiệp bảo hiểm từ chối thực hiện nghĩa vụ bồi thường bảo hiểm đã được giao kết.

3. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt, doanh nghiệp bảo hiểm buộc phải bồi thường đúng theo quy định. Cá nhân, tổ chức buộc phải hoàn trả toàn bộ số tiền đã thu được do hành vi vi phạm các quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều này.

4. Đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a, c và d khoản 2 Điều này, ngoài việc bị phạt tiền doanh nghiệp bảo hiểm còn bị xem xét áp dụng biện pháp đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc thu hẹp nội dung, phạm vi và địa bàn hoạt động trong Giấy phép thành lập và hoạt động đối với nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới.

Hùng Anh

 

Admin
Chia sẻ ý kiến của bạn
0/1200 ký tự
comment_bankChưa có bình luận nào

Bài viết cùng chuyên mục

Đường dây nóng

Thi Trắc nghiêm

Thăm dò ý kiến

Giải pháp kiềm chế và giảm tai nạn giao thông