Tại sao gọi là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng?
Việc bồi thường thiệt hại cho người bị nạn là điều mà chủ xe cơ giới bắt buộc phải thực hiện khi bản thân gây tai nạn, và nếu chủ xe cơ giới có tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự thì công ty bảo hiểm sẽ đóng vai trò trung gian, thay mặt chủ xe cơ giới để đền bù thiệt hại cho người bị nạn.
Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về người do xe cơ giới gây ra là 100 triệu đồng/1 người/ 1 vụ tai nạn. Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về tài sản do xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe cơ giới tương tự (kể cả xe cơ giới dùng cho người tàn tật) gây ra là 50 triệu đồng /1 vụ tai nạn. Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về tài sản do xe ô tô, máy kéo, xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp và các loại xe đặc chủng khác sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng (kể cả rơ-mooc và sơ mi rơ mooc được kéo bởi xe ô tô hoặc máy kéo) gây ra là 100 triệu đồng/ 1 vụ tai nạn.
Tuy nhiên, Thông tư 22/2016/TT-BTC ngày 16 tháng 02 năm 2016 quy định Quy tắc, Điều Khoản, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới quy định về phạm vi bồi thường thiệt hại đó là “thiệt hại ngoài hợp đồng” về thân thể, tính mạng và tài sản đối với bên thứ ba do xe cơ giới gây ra và thiệt hại về thân thể và tính mạng của hành khách theo hợp đồng vận chuyển hành khách do xe cơ giới gây ra. Vậy hiểu như thế nào là thiệt hại ngoài hợp đồng?
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những chế định quan trọng được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015 và cũng là một trong những vấn đề pháp lý mà chúng ta thường gặp phải trong cuộc sống. Theo quy định tại Điều 13 Bộ luật Dân sự 2015 thì:
Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác. Bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách đền bù các tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại.
Như vậy có thể hiểu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự của bên có lỗi (cố ý hoặc vô ý) gây hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, gây hại đến danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác. Khác với bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, đó là khi có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác tức là thiệt hại xảy ra phát sinh từ hành vi vi phạm của các bên trong hợp đồng. Còn đối với bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì bất cứ chủ thể nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 đó là:
Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
Từ quy định trên có thể thấy căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại là hành vi xâm phạm gây thiệt hại của người gây thiệt hại. Vậy có thể rút ra các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng từ quy định của pháp luật như sau:
Thứ nhất, có thiệt hại thực tế xảy ra (trừ trường hợp thiệt hại xảy ra do sự kiện bất khả kháng hoặc do lỗi của bên bị thiệt hại). Cá nhân có hành vi xâm phạm nhưng không gây thiệt hại thì không phải bồi thường thiệt hại.
Thứ hai, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật. Khi một cá nhân có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại có thể do lỗi cố ý hoặc vô ý nhưng vẫn đều bị coi là đã có hành vi vi phạm pháp luật.
Bản chất của quy định này đó là khi bên gây thiệt hại gây ra thiệt hại mà không thuộc vào các trường hợp loại trừ của pháp luật (ví dụ như sự kiện bất khả kháng, lỗi hoàn do bên bị thiệt hại) thì đều là hành vi vi phạm pháp luật, cụ thể là vi phạm Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 và đều phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Chính vì vậy, hành vi trái pháp luật được coi là một trong những điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra. Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại.
Nguyên tắc bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:
1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
4.Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.
Như vậy thông qua những phân tích trên có thể khẳng định Bảo hiểm bắt buộc TNDS là quy định pháp lý rất thiết thực và nhân văn, đảm bảo quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên liên quan trong vụ TNGT, người gây tai nạn luôn phải có trách nhiệm đền bù thiệt hại và công ty bảo hiểm sẽ đồng hành cùng họ trong việc bồi thường thiệt hại. Còn đối với người bị thiệt hại, công ty bảo hiểm sẽ thay mặt người gây tai nạn để đền bù thỏa đáng cho họ. Tuy rằng TNGT là điều không ai mong muốn, song bảo hiểm TNDS đã thể hiện tính ưu việt trong việc khắc phục hậu quả, chia sẻ những thiệt hại, rủi ro của vụ tai nạn.
BBT




