Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm
Hành vi gian lận trong kinh doanh bảo hiểm được hình sự hoá tại Điều 213 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015, nếu đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì cơ quan thi hành pháp luật sẽ truy tố với tội danh "gian lận bảo hiểm" hay "lừa đảo chiếm đoạt tài sản’’.
Trục lợi bảo hiểm là thuật ngữ không còn xa lạ trên thị trường kinh doanh bảo hiểm. Thị trường bảo hiểm càng sôi động thì hành vi trục lợi bảo hiểm càng gia tăng và tinh vi hơn để qua mặt các cơ quan chức năng nhằm chiếm đoạt số tiền bảo hiểm bất chính. Đối với các lĩnh vực khác, điển hình trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, việc khai khống hồ sơ, làm giả hồ sơ liên quan đến sức khoẻ không quá lộ liễu do đối tượng có thể phải tự làm tổn thương chính mình. Song đối với lĩnh vực bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự thì tình trạng trục lợi bảo hiểm dường như dễ dàng và phổ biến hơn do hồ sơ thủ tục giản đơn hơn, việc tổn hại lại xảy ra đối với bên thứ ba, không phải tổn thương trực tiếp người mua bảo hiểm. Do đó chỉ cần sự thông đồng, thoả thuận giữa người mua bảo hiểm, người bị thiệt hại và doanh nghiệp bảo hiểm thì việc trục lợi bảo hiểm đã trở nên đơn giản hơn.
Theo quy định tại khoản 1, Điều 19, Mục 1, Chương II, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000: Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm; bên mua bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến đối tượng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm. Các bên chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin đó. Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm giữ bí mật về thông tin do bên mua bảo hiểm cung cấp.
Đối với bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm của chủ xe cơ giới, giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới là bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự giữa chủ xe cơ giới với doanh nghiệp bảo hiểm. Mỗi xe cơ giới được cấp 1 Giấy chứng nhận bảo hiểm. Chủ xe cơ giới bị mất Giấy chứng nhận bảo hiểm phải có văn bản đề nghị doanh nghiệp bảo hiểm (nơi đã cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm) cấp lại Giấy chứng nhận bảo hiểm (Khoản 1, Điều 6, Nghị định 03/2021/NĐ-CP ngày 15 tháng 01 năm 2021 quy định về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới). Bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm có nghĩa vụ phối hợp với doanh nghiệp bảo hiểm xem xét tình trạng xe trước khi cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm (Khoản 1, Điều 18, Nghị định 03/2021/NĐ-CP). Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền yêu cầu bên mua Bảo hiểm, người được bảo hiểm cung cấp đầy đủ và trung thực những nội dung đã được quy định trong Giấy chứng nhận bảo hiểm; xem xét tình trạng xe cơ giới trước khi cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm (Khoản 1, Điều 19, Nghị định 03/2021/NĐ-CP). Như vậy việc cung cấp thông tin chính xác là quyền và nghĩa vụ của cả bên mua bảo hiểm và bên bán bảo hiểm, hành vi khai báo, thông tin gian dối sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Thực tế tổng kết qua các vụ trục lợi bảo hiểm, rất nhiều hành vi trục lợi đã được phát hiện như: chủ xe cơ giới tự phá hỏng các bộ phận của xe hoặc hủy hoại dưới hình thức đốt xe, lao xe xuống vực (chủ yếu là xe cũ); tự đốt nhà xưởng; tự làm chìm tàu; lái xe gây tai nạn không có giấy phép lái xe sau đó thay thế người khác có giấy phép lái xe; hai bên chủ xe phối hợp làm 2 bộ hồ sơ công an khác nhau trong cùng một vụ tai nạn hoặc chủ xe dựng hiện trường giả vụ tai nạn....
Đối với hành vi không cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, thì có thể bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 17, Mục 3, Chương II, Nghị định 98/2013/NĐ-CP, ngày 28/8/2013 của Chính phủ. Tuy nhiên, hành vi này chỉ áp dụng đối với hành vi cá nhân, tổ chức kinh doanh bảo hiểm, còn người mua bảo hiểm sẽ không bị xử phạt hành chính.
Đối với hành vi cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường của người mua bảo hiểm thì Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm theo quy định tại khoản 2, Điều 19, Mục 3, Chương II, Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000.
Tuy nhiên dường như mức xử phạt như trên chưa đủ sức răn đe trước những cám dỗ về lợi ích vật chất đối với hành vi gian lận bảo hiểm. Dó đó, lần đầu tiên trong Bộ luật Hình sự 2015 của Việt Nam đã hình sự hóa tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm. Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm được quy định, hướng dẫn tại Điều 213 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Theo đó, hành vi trục lợi bảo hiểm nếu đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì cơ quan thi hành pháp luật sẽ truy tố với tội danh "gian lận bảo hiểm" hay "lừa đảo chiếm đoạt tài sản’’.
Tội trục lợi trong kinh doanh bảo hiểm tại Điều 213, Bộ luật Hình sự sửa đổi ghi rõ:
Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tiền bảo hiểm từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 174, 353 và 355 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:
a) Thông đồng với người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm để giải quyết bồi thường bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm trái pháp luật;
b) Giả mạo tài liệu, cố ý làm sai lệch thông tin để từ chối bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm đã xảy ra;
c) Giả mạo tài liệu, cố ý làm sai lệch thông tin trong hồ sơ yêu cầu bồi thường, trả tiền bảo hiểm;
d) Tự gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe của mình để hưởng quyền lợi bảo hiểm, trừ trường hợp luật có quy định khác.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm: Có tổ chức; Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt; Chiếm đoạt số tiền bảo hiểm từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; Gây thiệt hại từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng; Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: Chiếm đoạt số tiền bảo hiểm 500.000.000 đồng trở lên; Gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng trở lên.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Quy định trên được đánh giá là thiết thực, tạo cơ sở pháp lý, công cụ hữu hiệu nhằm phát triển thị trường bảo hiểm, cũng đủ sức răn đe với hành vi gian lận bảo hiểm. Tuy nhiên, cần thực thi cũng như giám sát việc thực thi quy định pháp luật chặt chẽ, nếu không hiệu quả thực tế sẽ không được như kỳ vọng.
Hồng Phúc




