Xe máy điện có phải tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm của chủ xe cơ giới không?
Bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm của chủ xe cơ giới đã không còn xa lạ đối với người tham gia giao thông, phổ biến là người điều khiển xe mô tô, xe ô tô. Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm của chủ xe cơ giới là một trong những loại giấy tờ bắt buộc phải mang theo khi tham gia giao thông. Theo điểm d khoản 2 Điều 58 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, người lái xe khi điều khiển phương tiện phải mang Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Do đó, người điều khiển xe mô tô, xe ô tô khi tham gia giao thông nhất định không được quên mang theo giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm của chủ xe cơ giới. Khi tham giao thông, nếu bị lực lượng chức năng kiểm tra mà người điều khiển phương tiện không xuất trình được giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm của chủ xe cơ giới, người lái xe sẽ bị xử phạt hành chính.
Đối với xe mô tô, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 21 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, được sửa bởi Nghị định 123/2021/NĐ-CP:
2. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy không có hoặc không mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực;
Đối với xe ô tô, căn cứ điểm b khoản 4 Điều 21 Nghị định 100/2019/NĐ- điểm b khoản 4 Điều 21 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định như sau:
"Điều 21. Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về điều kiện của người điều khiển xe cơ giới
...
4. Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
b) Người điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô không có hoặc không mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực.
Như vậy trong các thuật ngữ diễn giải trên, xe máy điện không cần tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới do không có đề cập trong các quy định về xử phạt vi phạm hành chính về TTATGT đường bộ. Hiểu như vậy đã đúng quy định của pháp luật hay chưa?
Trước hết, cần tìm hiểu quy định gốc về bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Đối với lĩnh vực này, quy định chung căn cứ Luật kinh doanh bảo hiểm số 08/2022/QH15 ngày 16 tháng 6 năm 2022;Luật Giao thông đường bộ năm 2008; quy định đặc thù căn cứ Nghị định Số: 03/2021/NĐ-CP ngày 15 tháng 01 năm 2021 quy định về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, tiếp theo là Thông tư 04/2021/TT-BTC ngày 15 tháng 01 năm 2021 quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 03/2021/NĐ-CP.
Khoản 18, điều 3 Luật giao thông đường bộ năm 2008 quy định: Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự.
Điểm a, khoản 2, điều 3, Nghị định Số: 03/2021/NĐ-CP quy định: Xe cơ giới bao gồm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ và xe máy chuyên dùng, trong đó: Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe có kết cấu tương tự theo quy định của Luật Giao thông đường bộ.
Như vậy, xe máy điện cũng phải tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, nếu người điều khiển xe máy điện khi tham gia giao thông mà không mang, hoặc không có bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới thì sẽ bị xử phạt từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng.
V.D




